Bệnh u xơ tử cung

U xơ tử cung (Uterine fibroids) là mức độ cơ trơn tử cung xuất hiện u bướu lành đặc điểm. Đây là một trong những bệnh phụ khoa phổ quát ở các chị em trong lứa tuổi sinh sản. Bệnh lý này rõ ràng bởi tình trạng xuất huyết tử cung bất thường (rong kinh, cường kinh, rong huyết), đại tiện khó, đi giải lắt nhắt, tiểu khá nhiều lần,… hoặc có nguy cơ không gây bất cứ dấu hiệu lâm sàng nào.

mổ u xơ tử cung bao nhiêu tiền được tìm hiểu nhiều khi muốn chữa u xơ tử cung

phau thuat u xo tu cung het bao nhieu tien được tìm hiểu nhiều khi muốn chữa u xơ tử cung

mổ u xơ tử cung ở bệnh viện nào quan nhiều bạn nữ quan tâm trước khi chữa u xơ tử cung


U xơ tử cung (Uterine fibroids) đề cập đến khối u lành đặc điểm xuất hiện ở cơ trơn cơ tử cung. Căn bệnh hay tác động tới nữ giới trong độ tuổi sinh sản (từ 25 – 50 tuổi). Chứng bệnh lý này hiếm có thể chuyển biến thành u bướu ác đặc tính và cũng không thực hiện tăng nguy cơ ung thư tử cung.

tuy nhiên U xơ có kích thước nghiêm trọng có gây nên xuất huyết tử cung không bình thường, chèn ép xương chậu và tác động đến các quan trong buồng tử cung như ống dẫn trứng, buồng trứng,… Sự thấy của u bướu có thể gây nên biến loại lòng tử cung giảm thiểu nguy cơ thụ thai, tăng mối nguy hại sảy thai và gây một số thắc mắc xấu như thai muộn tăng trưởng, sinh non và nhau bong non.

U xơ được chia thành 4 loại gồm U xơ trong cơ tử cung, dưới niêm mạc, cổ tử cung và dưới thanh mạc

Tùy vào vị trí thấy, khối u xơ được phân thành 4 dạng chính:

U xơ trong cơ tử cung: Là mức độ khối u thấy trong lớp cơ tử cung. U có xu hướng lan rộng làm thay đổi hình kiểu lòng tử cung hoặc có nguy cơ tiến triển xâm lấn lớp thanh mạc tử cung.

U xơ dưới thanh mạc: U xơ khởi phát ở lớp cơ nằm sát thanh mạc. Kiểu u này có khả năng có cuống hoặc nằm ngay trên dây chằng rộng.

U xơ cổ tử cung: U nằm ở niêm mạc cổ tử cung quá nhiều hơn thân tử cung. Kiểu u này có nguy cơ gây ra bít cổ tử cung làm cho máu kinh khó khăn chảy ra bên ngoài, dẫn đến tình đau bụng kinh dữ dội.

U xơ dưới niêm mạc: tiếp diễn khi khối u thấy ở lớp cơ nằm trên lớp niêm mạc. U xơ dưới niêm mạc được chia thành 3 tuýp: Tuýp 0 toàn bộ U xơ nằm hoàn toàn trong lòng tử cung; tuýp 1 >50% thể tích u bướu nằm bên trong lòng tử cung; tuýp 2 <50% thể tích khối u nằm trong lòng tử cung.



con đường gây bệnh U xơ tử cung

hiện giờ, nhân tố chuẩn xác gây U xơ tử cung vẫn chưa được xác định. Nhưng mà qua nhiều tìm hiểu, các nhà phù hợp nhận biết U xơ là u bướu tùy thuộc vào hormone estrogen và một phần hormone progesterone. Chủ yếu vì vậy, chứng bệnh lý này thường thấy ở phụ nữ trong giai đoạn sinh sản – nhất là khi đang mang bầu.

một số nguyên do được xác định có mối quan hệ tới quá trình tạo thành u bướu lành ở cơ trơn tử cung:

Hormone: U xơ thường hay xuất hiện trong độ tuổi sinh sản và tiến triển mạnh khi nồng độ estrogen, progesterone cải thiện. Tìm hiểu cho rằng, hơn 70% tình huống U xơ bắt đầu sinh ra trong giai đoạn mang thai và có chiều hướng suy nhược kích thước sau khi hết kinh do nội bài tiết tố suy giảm.

Di truyền: nữ giới có thể bị U xơ cao nếu cho mẹ, chị/ em gái và bà mắc căn bệnh lý này.

cấu trúc nền tiến triển quá nhiều (ECM/ Extracellular matrix): ECM là vật liệu giúp cho các tế bào kết dính sinh ra niêm mạc. Tuy nhiên ECM gia tăng đột ngột có thể gây nên tạo ra khối u không bình thường ở thành tử cung.

một vài nhân tố khác: tham khảo cho rằng, các nhân tố tăng trưởng (như insulin) có nguy cơ tác động đến sự trở nên và phát triển của U xơ.

một vài tác nhân làm tăng mối nguy hại U xơ tử cung:

các chị em da đen có thể mắc phải U xơ với các biểu hiện trầm trọng hơn so với các chủng tộc không giống

Có kinh nguyệt từ sớm

thiếu vitamin D, dung nạp ít rau xanh, hoa quả và lạm dụng thịt đỏ

Thừa cân – béo phì

dùng quá nhiều rượu bia

Quá trình tăng trưởng của U xơ có sự không giống biệt ở đã từng cá thể. U xơ có nguy cơ tiến triển nhanh song cũng có khả năng phát triển muộn, không tăng kích thước hoặc có thể co lại theo thời gian. Trên thực tế, một số khối u xơ sinh ra trong thời kỳ có bầu có nguy cơ không còn nữa hoàn toàn sau khi sinh nở.

triệu chứng nhận ra U xơ tử cung ở chị em phụ nữ

dấu hiệu của U xơ tử cung không có tính đặc trưng và đồng nhất. Hầu hết phụ nữ mắc phải U xơ đều không xuất hiện dấu hiệu lâm sàng. Trong khi đó ở những ít tình huống, U xơ có nguy cơ gây nên các biểu hiện có mức độ nặng, khởi phát đột ngột và lớn dần theo thời gian.

1. Dấu hiệu bình thường

Các dấu hiệu khởi phát do U xơ tử cung hay bắt nguồn từ tình trạng chèn ép vùng chậu. Các triêu chứng phổ quát, bao gồm:

nhân tố gây nên U xơ tử cung

Xuất huyết tử cung bất thường (rong kinh, rong huyết và cường kinh) là biểu hiện điển hình của U xơ

Xuất huyết tử cung bất thường (cường kinh, rong huyết và rong kinh) là triệu chứng thường thấy nhất ở chị em phụ nữ gặp phải U xơ. Tình trạng xuất huyết căn cứ theo vào kích cỡ và vị trí u bướu.

thấy các dấu hiệu chèn ép hạ vị như đại tiện khó, bí tiểu, tiểu rất nhiều lần, chẩn đoán tiểu sót, bụng tức nặng,… U xơ có kích cỡ không nhỏ có thể đè nén mao mạch chủ gây nên phù nề chi dưới và thực hiện tăng mối nguy hại tạo thành huyết khối.

đau bụng kinh dữ dội (gặp ở tất cả chị em phụ nữ bị u xơ)

gây ra đau đớn khi "làm chuyện ấy", đặc biệt là U xơ ở đáy tử cung và mặt trước tử cung

Trong tình huống U xơ xoắn (thường gặp ở U xơ có cuống) hoặc U xơ thoái hóa có thể gây ra đau cấp đặc điểm kèm sốt nhẹ, mức độ đau đớn nâng cao khi chạm vào vùng dưới

khó thụ thai

2. Triệu chứng trong thời gian mang thai

Nếu tiếp diễn trong thời gian có thai, U xơ tử cung có nguy cơ gây ra các dấu hiệu như:

Thai chậm tăng trưởng

Sảy thai

Ngôi thai thất thường do khối u đè nén

Tăng nguy cơ băng huyết khi sinh

U xơ tử cung có nguy hiểm không?

U xơ tử cung là khối u lành cần phải đa phần không đe dọa tới mạng sống. Nhưng mà khối u có thể gia tăng kích cỡ theo thời gian và ảnh hưởng lớn tới công dụng sinh sản của nữ giới.

con đường gây U xơ tử cung

U xơ diễn ra khi có bầu ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của thai nhi và sức khỏe mẹ bầu

Các biến chứng phổ quát của căn bệnh U xơ tử cung:

U thoái hóa: Sau một thời gian phát triển, U xơ có khả năng thoái hóa kính (lõi trong u bướu biến thành dịch có màu nâu), thoái hóa kiểu vôi (vôi hóa vỏ u bướu tiến dần về lõi u) và thoái hóa dạng nang (lõi u biến thành chất lỏng có màu trắng đục). U thoái hóa hay gây nên đau cấp, sốt nhẹ và tăng bạch cầu trong máu.

Nhiễm trùng: U xơ có nguy cơ mắc phải nhiễm trùng, hoại tử sau khi sảy thai, bỏ thai hoặc sau khi sinh. Hậu quả này đặc trưng bởi mức độ đau hạ vị dữ dội, sốt, ớn lạnh, toàn thân suy sụp,…

thiếu máu: thiếu máu là hệ quả do cường kinh và rong kinh kéo dài. Tất cả nữ giới bị U xơ đều có khả năng trạng kém, trường hợp xanh xao, hay mệt mỏi, da mặt kém sắc và thiếu tập trung.

Xoắn khối u: Xoắn u bướu thường hay xuất hiện ở U xơ có cuống. Hậu quả này dấu hiệu qua mức độ đau bụng dữ dội, nôn mửa rất hay, choáng, ngất do đau và bí trung đại tiện. Xoắn khối u có khả năng gây viêm phúc mạc và tử vong nếu không được trị sớm.

Hoại tử vô khuẩn u xơ: Hoại tử vô khuẩn là tình trạng U xơ mắc phải hoại tử không do nhiễm trùng. Hậu quả này thường hay diễn ra trong thời gian có bầu khi các mạch máu phát triển không kịp tốc độ tăng trưởng của u bướu. Dẫn đến hiện tượng khối u hoại tử do thiếu máu nuôi dưỡng.

Sảy thai: U xơ có chiều hướng tăng cường kích thước trong thời gian thai kỳ do nồng độ estrogen và progesterone tăng mạnh. U bướu có kích cỡ nặng nề gây đè nén lên đứa con, kích thích tử cung co bóp quá mức và làm tăng hiểm họa sảy thai.

Hiếm muộn vô sinh: Sự xuất hiện thất thường của u bướu ở cơ thành tử cung có thể gây không dễ dàng trong quá trình trứng “gặp” tinh binh. Bên cạnh đó, U xơ không được chữa sớm có khả năng gây ra biến dạng lòng tử cung và suy giảm khả năng thụ thai.

Ngoài ra U xơ phát triển trong thời gian có bầu còn giảm thiểu sự tiến triển của thai nhi, tăng khả năng sinh mổ, rau bong non và thực hiện tăng nguy cơ viêm niêm mạc tử cung trong giai đoạn hậu sản.

cảm nhận căn bệnh U xơ tử cung

toàn bộ chị em phụ nữ gặp phải U xơ đều không có biểu hiện lâm sàng. Nhưng mà ở một tỷ lệ, căn bệnh có thể gây ra những dấu hiệu không nhỏ và có tính điển hình cao. Để nhận ra căn bệnh lý này, bác sĩ sẽ tiến hành kiểm tra lâm sàng và cần đến tiến hành các giải pháp cận lâm sàng nên thiết.

trị U xơ tử cung

nhận ra U xơ tử cung gồm thăm khám lâm sàng, siêu âm, chụp MRI, UIV,…

khám bệnh lâm sàng:

Có các biểu hiện rõ ràng như xuất huyết tử cung thất thường và các biểu hiện xảy ra do đè nén vùng hạ vị

Thể trạng thường thì hoặc người xanh xao, mất máu

xuất hiện biểu hiện phúc mạc (chán ăn, tiêu chảy, buồn nôn, nôn mửa, sốt, đau bụng, chướng bụng, khát nước, suy yếu lượng nước giải,…) do khối u thoái hóa hoại tử

Cận lâm sàng:

Siêu âm: giúp chẩn đoán u bướu lành nằm ở thành tử cung. Hình ảnh từ siêu âm còn giúp dạng trừ khả năng bị u nang buồng trứng.

MRI: MRI được phản hồi là biện pháp nhận ra U xơ tử cung chính xác giúp cho bác sĩ xác định kích thước và vị trí u bướu. Tuy nhiên, liệu pháp này có mức phí cao nên chỉ được thực hiện trong những tình huống không dễ dàng có cảm giác hoặc kiểu trừ khả năng gặp phải Sarcoma mô mềm.

Chụp X-Quang hệ đào thải niệu (UIV): cách này giúp phản hồi mức độ chèn ép lên thận và niệu quản.

Dựa vào dấu hiệu lâm sàng của đã trường hợp, bác sĩ có thể thực hiện cảm thấy phân biệt đối với các bệnh lý sau:

Xuất huyết tử cung bất thường (bệnh lý ác tính của niêm mạc tử cung, chứng bệnh lý tăng sinh nội mạc tử cung)

Có khối u ở hạ vị (polyp tử cung, lạc nội mạc ở cơ tử cung, mang thai)

đau đớn vùng chậu (lạc nội mạc buồng trứng, u nang buồng trứng xoắn, lạc nội mạc cơ tử cung, thai ngoài tử cung, viêm phần phụ)

Các giải pháp trị U xơ tử cung

U xơ tử cung là khối u lành đặc điểm. Với các trường hợp gặp phải U xơ nhưng mà không nảy sinh dấu hiệu không bình thường, bác sĩ có thể đề nghị theo dõi để phản hồi xem có cần can thiệp chữa trị thường hay không. Mục tiêu chủ yếu của điều trị U xơ tử cung là tăng lên biểu hiện lâm sàng và giảm kích cỡ khối u xơ.

hiện nay, điều trị U xơ chỉ được tiến hành đối với một số tình huống sau:

U xơ tử cung có triệu chứng lâm sàng

điều trị dự phòng đối với phụ nữ có U xơ dưới niêm mạc có ý định có bầu nhằm tránh tình trạng sảy thai

chữa trị dự phòng với trường hợp U xơ chèn ép niệu quản nhằm làm giảm hiểm họa tắc nghẽn lỗ tiểu

chữa trị U xơ cổ tử cung không có sự đồng nhất mà bắt buộc phải cá thể hóa để hạn chế một số can thiệp không cần phải thiết. Cách chữa trị được dùng tùy thuộc vào một vài con đường sau:

Vị trí và kích cỡ u bướu

triệu chứng lâm sàng

hết kinh

đòi hỏi của cá nhân người mắc bệnh và đối tượng nhà

1. Chữa trị theo dõi

chữa trị theo dõi được sử dụng cho các tình huống U xơ không phát sinh dấu hiệu lâm sàng. Với một số trường hợp này, bác sĩ sẽ làm siêu âm để xác định U xơ tử cung và kiểu trừ mối nguy hại u buồng trứng.

Việc theo dõi được thực hiện 1 năm/ lần nhằm đánh giá quá trình tăng trưởng của u bướu. Trên thực tế, U xơ có xu hướng thoái triển sau khi sinh và mãn tính cần đa phần không phải can thiệp y tế.

2. Điều trị nội khoa

trị nội khoa được chỉ dẫn đối với U xơ tử cung có dấu hiệu. Các kiểu thuốc kháng sinh được dùng có thể ức chế hoạt động sản sinh estrogen của buồng trứng nhằm suy nhược kích thước khối u và gia tăng xuất huyết tử cung bất thường.

liệu pháp trị U xơ tử cung hiệu quả

chữa trị nội khoa được chỉ dẫn đối với các trường hợp U xơ có dấu hiệu

Các dạng kháng sinh được uống để trị U xơ tử cung:

Proestin:

Progestin là một dạng progesterone được áp dụng nhằm ức chế hormone estrogen và thực hiện teo nội mạc tử cung. Thuốc kháng sinh có khả năng suy giảm kích thước nhân xơ tuy nhiên khi ngưng kháng sinh, u có khả năng tăng kích cỡ trở lại.

kiểu thuốc này được dùng ở quá nhiều kiểu bào chế không giống nhau như Mirena (vòng tránh thai nội tiết) được dùng để suy giảm cường kinh, thu nhỏ thể tích u bướu và ngừa thai; chích, cấy được áp dụng với các trường hợp biểu hiện nhẹ và có nguyện vọng phòng tránh thai.

thuốc kháng sinh phòng tránh thai phối hợp:

thuốc kháng sinh phòng tránh thai phối hợp được áp dụng ngằm làm chủ triệu chứng rong kinh và cường kinh. Nhưng cần cân kể khi lấy thuốc kháng sinh đối với thành phần dưới 16 tuổi. Một số khảo sát chứng tỏ, uống thuốc ngừa thai kịp thời có thể gây U xơ tử cung trong tương lai.

dưỡng chất đồng vận GnRH:

dinh dưỡng đồng vận GnRH được sử dụng qua đường tiêm bắp hoặc tiêm tại hố nách vùng bụng. Loại kháng sinh này được lấy trước khi mổ bóc nhân xơ, các chị em tiền hết kinh, trì hoãn thủ thuật, hỗ trợ gia tăng thể trạng trước khi mổ, các tình huống chưa muốn/ chống chỉ dẫn thủ thuật,…

chất đồng vận GnRH làm giảm tiết LH, FSH nhằm gây suy yếu công dụng sinh dục giống chị em phụ nữ đã từng tắt kinh. Thực tế cho rằng, thuốc có thể suy nhược 35 – 60% thể tích u bướu sau 3 tháng chữa trị. Song nhóm thuốc này có giá thành đắt đỏ và hiệu quả có giới hạn cần chỉ được áp dụng khi nên thiết.

thời điểm này, kháng sinh thường được dùng 3 tháng trước khi phẫu thuật nhằm thu nhỏ nhân xơ và hạn chế mất máu khi thủ thuật.

GnRH đối vận:

dạng thuốc này có tăng cao lâm sàng tương tự GnRH đồng vận song công dụng nhanh hơn. Song GnRH đối vận có hữu hiệu không nhiều ngày và phải tiêm mỗi ngày cần ít khi được áp dụng trong trị U xơ tử cung.

Danazol:

Danazol thường hay được lấy để chữa xơ nang vú, lạc nội mạc tử cung và chứng đa kinh. Mặt khác thuốc kháng sinh cũng được sử dụng nhằm làm chủ tình trạng rong kinh, cường kinh và hỗ trợ thu nhỏ thể tích U xơ. Thuốc kháng sinh vận động bằng liệu pháp giảm sút vận động phóng thích nội tiết tố Gonadotropin nhằm ức chế buồng trứng sản xuất estrogen.

Ngoài ra, bác sĩ có nguy cơ chỉ dẫn một vài loại kháng sinh khác như Antiprogestins (thuốc tránh thai khẩn cấp), Gestrinone ,… Các kiểu kháng sinh này có hữu hiệu trong điều trị U xơ tử cung tuy nhiên do phản ứng phụ quá nhiều cần phải chỉ được sử dụng khi thực sự cần thiết.

3. Điều trị ngoại khoa

Mục đích của điều trị ngoại khoa là cắt tử cung toàn phần và thủ thuật sử dụng khối nhân xơ nhằm nâng cao biểu hiện và dự phòng hệ lụy nguy hiểm. Song can thiệp ngoại khoa luôn ẩn chứa rủi ro và hậu quả, vì thế bác sĩ chỉ mong muốn tiến hành khi lợi ích cao hơn hiểm họa.

chữa trị U xơ tử cung

trị U xơ tử cung bằng ngoại khoa chỉ được thực hiện khi điều trị nội khoa thất bại

Các giải pháp ngoại khoa được áp dụng trong trị U xơ tử cung bao gồm:

Bóc nhân xơ tử cung:

Bóc nhân xơ tử cung được thực hiện đối với tình huống chưa đủ con hoặc có mong muốn giữ tử cung. Để bóc nhân xơ, bác sĩ có khả năng mở bụng (u dưới thanh mạc và ở cơ), nội soi buồng tử cung (u xơ dưới niêm mạc) và cắt đường bộ phận sinh dục nữ (u xơ thoái hóa và sa xuống âm đạo).

phương pháp này giúp cho xóa bỏ khối u và bảo tồn tử cung. Nhưng bất lợi trầm trọng nhất của bóc nhân xơ tử cung là mối nguy hại xuất hiện trở lại khá cao.

Cắt tử cung:

Cắt tử cung được chỉ định khi điều trị nội khoa thất bại, phụ nữ đã có đủ con và mắc Đồng thời u buồng trứng, tăng sinh nội mạc tử cung và lạc nội mạc tử cung. Bên cạnh đó, liệu pháp này cũng được làm đối với một vài trường hợp có biểu hiện nặng và đòi hỏi điều trị bệnh tận gốc.

cắt đi tử cung giúp tăng cường biểu hiện và hạn chế tình trạng tái phát vĩnh viễn. Nhưng mà, cách này có nguy cơ gây nên rủi ro đối với tình huống U xơ dưới niêm mạc, u dưới thanh mạc hoặc u có cuống.

Thuyên tắc động mạch tử cung:

Thuyên tắc động mạch tử cung là kỹ thuật xâm lấn tối thiểu nhằm giảm sút lưu lượng máu nuôi dưỡng, khiến cho khối u hoại tử và teo dần theo thời gian. Kỹ thuật này được tiến hành với chị em phụ nữ yêu cầu bảo tồn tử cung, không có ý định sinh con trong tương lai, nhân xơ tái phát sau khi mổ bóc nhân xơ, chống chỉ định đối với gây mê toàn thân và U xơ tử cung không nhỏ tiến triển từ 12 – 16 tuần.

Chống chỉ định thuyên tắc động mạch tử cung đối với thành phần có biến đổi đông máu, nghi ngờ căn bệnh lý ác tính, U xơ tử cung có cuống, u dưới niêm mạc và khối u có kích thước quá trầm trọng (>24 tuần), còn ý định sinh con, tiền căn cột động mạch hạ vị, đang lấy GRnH.

trị ngoại khoa giúp làm chủ dấu hiệu hiệu quả hơn so đối với chữa nội khoa. Tuy nhiên tất cả các kỹ thuật xâm lấn đều có rủi ro và hệ lụy hậu phẫu. Bởi vì thế chỉ nên can thiệp ngoại khoa trong một vài trường hợp cần phải thiết.

ngăn ngừa U xơ tử cung bằng liệu pháp nào?

Do chưa xác định được yếu tố cụ thể cần phải không có giải pháp ngăn chặn U xơ tử cung hoàn toàn. Nhưng các chị em có thể giảm sút nguy cơ mắc căn bệnh lý này với những phương pháp sau:

chữa trị U xơ tử cung

nữ giới cần luyện tập thể dục thể thao liên tục, sinh hoạt và ăn sử dụng điều độ để ngăn chặn U xơ tử cung

tập thể thao từ 20 – 30 phút/ ngày và cần thiết phải luyện tập ít nhất 3 buổi/ tuần. Ngoài nguy cơ chống lại các bệnh phụ khoa, vận động thể dinh dưỡng còn giúp giữ thể trạng khỏe mạnh, ngừa loãng xương và thực hiện chậm quá trình lão hóa.

làm chủ cân nặng bằng chế độ ăn uống, sinh hoạt và tập luyện thích hợp. Quá nhiều nghiên cứu từng chứng minh, trọng số lượng cơ thể cao làm tăng 10 – 20% nguy cơ mắc U xơ tử cung.

Ngủ đúng giờ, đủ giấc, giới hạn thời gian lao động nhằm tránh stress thần kinh và điều chỉnh nội tiết tố.

khảo sát ý kiến bác sĩ trước khi áp dụng các chế phẩm chứa estrogen. Tăng sinh nội tiết tố quá độ là một trong số những nguyên nhân kích thích u bướu xuất hiện ở thành tử cung.

tăng cường bổ sung rau xanh, trái cây, món ăn giàu vitamin D và chất chống oxy hóa trong chế độ ăn hằng ngày. Tránh thịt đỏ, dầu mỡ, muối đường và đồ dùng chứa cồn.

thăm khám phụ khoa ít nhất 1 năm/ lần để sớm chẩn đoán và chữa trị các câu hỏi bất thường.

U xơ tử cung là chứng bệnh lý thường gặp ở các chị em trong lứa tuổi sinh sản. Cho dù là khối u lành đặc điểm song U xơ có nguy cơ chèn ép vùng chậu, suy giảm khả năng thụ thai, tăng nguy bệnh vô sinh, sảy thai,… vì vậy phụ nữ cần phải chủ động thăm khám phụ khoa liên tục để kịp thời phát hiện và chữa bệnh.